Traduction non disponible. Affichage de la version française.

Địa chính trị George Friedman tháng 10 năm 2016

politique styles

En résumé (grâce à un LLM libre auto-hébergé)

  • George Friedman, người sáng lập Stratfor, đưa ra một quan điểm đế quốc về Hoa Kỳ, coi hòa bình chỉ dành riêng cho đất nước này, trong khi phần còn lại của thế giới phải chịu đựng các xung đột.
  • Ông chỉ trích châu Âu, coi đó là một thực thể không có tính chính trị riêng, và nhấn mạnh chiến lược của Mỹ là tạo ra các xung đột nội bộ nhằm duy trì tình trạng hỗn loạn.
  • Friedman giải thích chính sách của Mỹ nhằm tạo ra một vùng đệm an ninh để cô lập Đức khỏi Nga, minh họa một cách tiếp cận mang tính Machiavelli và đế quốc.

Định nghĩa phong cách

Những lời phát biểu của George Friedman

Tháng Mười năm 2016

George Friedman không phải là người mới trong bức tranh chính trị Mỹ. Chỉ cần tra cứu trang Wikipedia của ông. 67 tuổi, gốc Hungary, cha mẹ ông trốn chạy chế độ cộng sản. Ông dạy môn "khoa học chính trị" trong môi trường đại học, nhưng chủ yếu dưới hình thức các buổi hội thảo thường xuyên trong các cơ quan nhà nước và tư nhân, với vai trò "tư vấn". Ông cũng là người sáng lập một công ty Stratfor, chuyên về "tình báo". Stratfor là viết tắt của "Strategic Forecasting" (Dự báo Chiến lược). Nghĩa là: Dự báo Chiến lược. Vậy ông là một dạng cố vấn chiến lược. Tôi lần đầu tiên nghe nói đến ông, nhưng rõ ràng đây không phải lần đầu tiên ông phát biểu như vậy. Chỉ là hôm nay chúng ta được cung cấp video, và có những tình nguyện viên tự động phụ đề. Cảm ơn các bạn.

Khi tôi thấy nhắc đến hoạt động của công ty Stratfor, một tổ chức đóng vai trò cố vấn bí mật, hình ảnh một CIA ngầm lập tức hiện ra trong đầu tôi. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng nhiều người khác đã lâu nay đã gọi công ty này là một "CIA ngầm", dù công ty này đã được thành lập cách đây 20 năm.

Vì vậy, đây là một đoạn video trong đó George Friedman phát biểu tại một câu lạc bộ ở Chicago. Bạn sẽ nhận thấy ông nhíu mắt khi nói, như thể đang cung cấp những giải thích minh bạch, khiến người nghe cảm thấy thích thú – một Machiavel hiện đại.

Năm 2016: George Friedman tại Hội đồng Chicago về các vấn đề toàn cầu

****Video

Tôi cố gắng tóm tắt tư tưởng của ông. Hòa bình, đối với Mỹ, là điều đương nhiên. Phần còn lại thế giới, kể cả châu Âu, phải chấp nhận sống trong trạng thái chiến tranh định kỳ và bất ổn xã hội. Với Friedman, châu Âu là một thực thể không tồn tại về mặt chính trị. Mỹ có quan hệ với các nước như Rumani, Pháp. Nhưng "châu Âu thì không tồn tại". Đó là một thực thể không có tính cá nhân, không có độc lập.

Một người trong khán giả sau đó đặt câu hỏi Friedman về mối đe dọa từ chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan đối với Mỹ. Ông trả lời rằng hiện tại điều này không phải là mối đe dọa đối với Mỹ, và lập tức chuyển sang chủ đề chính, nói về mối quan hệ giữa các nước châu Âu và Nga.

Không thể nói rằng quan điểm của Friedman là mới mẻ. Nhưng ở đây, nó được phát biểu một cách trần trụi nhất. Ta có thể gọi ông là một người dân tộc chủ nghĩa, theo nghĩa:

  • Mỹ
  • Phần còn lại thế giới

Đơn giản như vậy. Vì vậy, mối quan tâm chính của ông là lợi ích của Mỹ, duy nhất, loại trừ hoàn toàn lợi ích của tất cả các nước khác, không ngoại lệ. Và khi nói đến Mỹ, ta hiểu là lợi ích của các thế lực tài chính trong nước. Ông thẳng thắn, không chút e ngại, tuyên bố rõ ràng rằng đất nước ông đang theo đuổi chính sách đế quốc. Nhưng ông cũng ghi nhận rằng Mỹ không có đủ năng lực để kiểm soát quân sự toàn cầu. Ông ví dụ như số lượng binh sĩ chiếm đóng tại Iraq sau cuộc xâm lược, chỉ khoảng 130.000 lính Mỹ trong một quốc gia có 25 triệu dân. Và ông thêm rằng tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ cảnh sát hiện diện tại New York so với dân số thành phố.

Vì vậy, giải pháp duy nhất là hỗ trợ các phe phái khác nhau, thúc đẩy họ chiến đấu lẫn nhau để giữ họ trong tình trạng yếu thế. Đó chính là chiến lược hỗn loạn của Naomi Klein. Bây giờ ta hiểu rõ hơn tại sao Mỹ không tìm cách thúc đẩy thành lập chính phủ liên minh quốc gia tại Iraq sau khi sụp đổ, kết hợp người Shiite và người Sunni. Trước đây, tại Iraq dưới Saddam Hussein, người Sunni thiểu số (20% dân số) đã áp bức người Shiite đông đảo. Sau khi Iraq sụp đổ, một tổng thống Shiite được đưa lên nắm quyền, lại áp bức người Sunni, khiến các chỉ huy quân sự Sunni gia nhập "DAESH". Một hành động ngu ngốc? Một sai lầm? Không hề, nếu ta nghĩ rằng chính sách này nằm trong kế hoạch thúc đẩy xung đột nội bộ khắp nơi trên thế giới.

Điều Friedman nói với chúng ta là chính sách của Mỹ, trên toàn thế giới. Ông cũng nhấn mạnh rằng đó từng là chính sách của Reagan, hay chính sách của Mỹ thời Reagan, khi đã kích động xung đột giữa Iraq (Sunni) và Iran (Shiite). Ông thêm rằng Mỹ đã cung cấp vũ khí cho cả hai bên (pháp, nhân tiện, cũng làm như vậy). Và ông nói: "Điều này không đạo đức lắm, không thể biện minh về mặt đạo đức, nhưng phải thừa nhận rằng nó đã hoạt động rất tốt". Và ông thể hiện sự hài lòng bằng cách nhíu mắt.

Như vậy, các tình huống như Libya và Syria trở nên rõ ràng hơn khi ta hiểu được chủ nghĩa Machiavel của Mỹ. Friedman nói thêm: "Mỹ kiểm soát tất cả các đại dương trên thế giới". Và ông nói thêm: "Chúng tôi can thiệp vào các dân tộc, nhưng họ không thể tấn công chúng tôi". Ông muốn nói gì bằng cụm từ "chúng tôi can thiệp"? Ông giải thích sau đó rằng các can thiệp này hoàn toàn không cần sự đồng thuận của Liên Hợp Quốc. Ta có thể gán bất kỳ điều gì vào thuật ngữ "can thiệp", được biện minh bằng "trách nhiệm can thiệp".

Về vấn đề Ukraine, ta cần ngay lập tức tham khảo bản đồ mà ông trình bày, vì nếu không, tình hình sẽ không thể hiểu được. Các nước châu Âu thì sao? Anh đã lâu nay ủng hộ chính sách đối ngoại của Mỹ. Đây là một hòn đảo, khó có thể xem là một phần của châu Âu. Pháp là một nước nhỏ, đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng sau thời kỳ Hollande. Không, nước gây rắc rối cho người Mỹ là Đức, theo ông "không thể đưa ra quyết định".

Thật vậy, Đức bị thu hút bởi Nga, nhờ vào nguồn tài nguyên năng lượng, khí đốt, khoáng sản của Nga. Về phía Đức, họ có vốn, công nghệ cao. Họ cần thị trường xuất khẩu cho sản phẩm công nghiệp. Vì vậy, mọi nỗ lực của Mỹ đều tập trung vào việc tạo ra một "rào cản vệ sinh" để cắt đứt Đức với Nga, và đây là bản đồ ông trình bày:

"Rào cản vệ sinh" để tách biệt Đức với Nga

Trong số các nước này, tất cả những nước từng thuộc Liên Xô: Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovenia, Hungary, Rumani, Bulgaria. Ta có thể thêm Thổ Nhĩ Kỳ, thành viên NATO. Dưới đây là bản đồ các nước liên kết với NATO:

Ta thấy rằng đây là một khối lớn, đặc biệt khi hành động đầu tiên của Sarkozy là đưa Pháp quay trở lại vòng tay phương Tây. George Friedman nhắc đến trường hợp Ukraine, nơi Mỹ đang thúc đẩy các phe phái. Không phải ở Belarus, vẫn giữ quan hệ gần gũi với Nga dù Liên Xô đã tan rã năm 1991. Ở khắp nơi, Mỹ kích động các "cách mạng màu" và các "Mùa xuân này", "Mùa xuân kia". Ta đã thấy cách mọi thứ diễn ra. Ở Ukraine, Mỹ gửi vũ khí và "cố vấn". Friedman nói thêm rằng một tướng Mỹ thăm viếng đã từng trao huy chương Mỹ cho các chiến binh chống Nga.

Ta thấy chiến lược hỗn loạn này xuất hiện ở khắp nơi.

Friedman hoàn toàn coi thường những gì đang xảy ra ở phần còn lại thế giới. Hãy nghe ông nói. Chỉ có chủ nghĩa đế quốc Mỹ là quan trọng.

Khi phân tích bản đồ của mình, Friedman nhắc đến một "rào cản vệ sinh" nhằm cắt đứt mọi liên lạc giữa Đức và Nga, và nói thêm: "Ta không biết Đức sẽ làm gì". Đây là quốc gia châu Âu duy nhất gây khó dễ cho Mỹ. Pháp đang suy tàn. Ý không bao giờ là mối đe dọa. Với Pháp, thái độ đã được xác định từ lâu bởi "con bài" Hollande, khi từ chối bán cho Nga các tàu hộ tống đã đặt hàng.

Năm 1991, Gorbachev thật sự ngây thơ khi tưởng rằng "giải tỏa căng thẳng" sẽ diễn ra. Nhưng ông không phải người quản lý hậu Liên Xô, đó là Eltsine, một kẻ nghiện rượu trầm cảm. Một người bạn Đức từng nói với tôi gần đây rằng khi ông đến Nga vì lý do công việc, ông đã thấy những phụ nữ già với miếng vải quấn quanh chân, gói trong túi nhựa buộc quanh cổ chân, như một đôi giày. Trong khi gia đình Eltsine đang cướp phá đất nước.

Người Mỹ chẳng quan tâm đến việc chúng ta có khủng bố trên lãnh thổ, có người dân thiệt mạng, họ đã nhân lên số lượng nạn nhân bằng cách khiến Trung Đông chìm trong lửa đạn. Họ không quan tâm đến việc tại Iraq có 20 vụ đánh bom mỗi ngày (giống như nhiều quốc gia khác). Họ được cách xa mọi chuyện bởi những đại dương rộng lớn. Tất cả những hỗn loạn này, cuối cùng lại có lợi cho họ.

Friedman không hiểu tại sao, sau khi đuổi người Nga khỏi Afghanistan, binh sĩ Mỹ lại đi vào đó thay thế, thay vì "về nhà". Ông đưa ra ý kiến: "Điều đó bình thường. Trẻ con thường mất thời gian để hiểu. Khi chúng hiểu, chúng sẽ quay về".

Tất cả những điều này thật đáng kinh ngạc, giống như cảnh tượng thấy bà Hillary Clinton điên rồ sắp trở thành Tổng thống Mỹ. Ta nghe thấy mọi người nói về chiến tranh, khắp nơi. Nhưng họ có thực sự hiểu điều họ đang nói không? Họ có biết chiến tranh hạt nhân sẽ ra sao không? Có vẻ như là không. Các chính trị gia luôn có chiến tranh chậm hơn. Năm 1939, họ tưởng tượng cuộc xung đột thứ hai giống cuộc chiến trước, với một tuyến mặt trận và hậu phương.

Ở Pháp, các cuộc tranh luận chính trị thật sự vô dụng. Nhưng tranh luận ở bên kia Đại Tây Dương cũng chẳng khá hơn, thậm chí còn tệ hơn. Ngày nay, không một chiến lược gia hay chính trị gia nào nghĩ đến cuộc chiến tranh thế giới thứ ba dưới dạng hạt nhân.

Quay lại những lời khinh miệt của Friedman đối với châu Âu, ngày càng rõ ràng rằng mô hình Liên minh châu Âu – một cấu trúc đang bộc lộ những điểm yếu, đặc biệt về an ninh trước di sản của sự hỗn loạn do người khác tạo ra – đang phục vụ chính sách bá quyền của Mỹ, cũng như chính sách đối ngoại của Mỹ, vì các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp, đang trở thành "quân lính của Mỹ", cho phép Mỹ "thuê ngoài" các hành động làm mất ổn định (ví dụ như chiến dịch Sarkozy tại Libya). Có sự hợp tác giữa lợi ích đế quốc của Mỹ và lợi ích của các thế lực tài chính ở các nước châu Âu. Kết quả chính là đẩy các nước châu Âu đến bờ vực sụp đổ, để dễ dàng thống trị chúng về mặt kinh tế và chính trị, phá hủy nền văn hóa của họ dưới danh nghĩa "toàn cầu hóa tất yếu". Tôi hoàn toàn đồng tình với Asselineau khi ông luôn nói rằng việc thành lập châu Âu và đồng tiền chung là một sai lầm lớn, dù việc lùi lại cũng rất khó khăn.

Tình hình lực lượng cảnh sát tại Pháp

Tôi không định quảng cáo cho Dupont Aignan. Nhưng khi ông nói về cảnh sát Pháp, ông nói những điều đúng đắn. Đặc biệt là cần xây thêm nhà tù mới ở Pháp với 40.000 chỗ trống. Nếu không, người ta sẽ nói: "Các anh hiểu đấy, khi một thẩm phán quyết định đưa ai đó vào tù, nghĩa là phải giải phóng ai đó để nhường chỗ. Vậy nên, họ do dự là điều bình thường".

Đã hết thời sợ hãi cảnh sát, lính gác. Pháp là nước duy nhất trên thế giới cho phép người ta hành hung một cảnh sát trong chính đồn cảnh sát của họ và vẫn được thả tự do. Việc buôn bán ma túy đã trở thành công khai tại các khu vực "vùng không pháp luật". Người ta phá hủy camera giám sát, hoặc cố giết những người đang cố giám sát. Tất cả chỉ còn là vấn đề "thiên hạ". Và phe tội phạm muốn có lãnh thổ riêng, nơi nhà nước không còn chỗ đứng. Bộ Nội vụ đang cân nhắc trang bị cửa sổ xe cảnh sát bằng lưới sắt. Nhưng người biểu tình sẽ xìu lốp xe.

Valls dùng từ "những đứa trẻ hoang dã", còn Taubira nói: "Phải để tuổi trẻ được sống". Chúng ta đang đi ngược chiều hoàn toàn. Đỉnh cao là Sarkozy, "người đàn ông muốn dọn dẹp các khu ngoại ô bằng máy hút bụi", khi còn làm Bộ trưởng Nội vụ, nay lại tuyên bố có thể khôi phục trật tự, trong khi ông đã cắt giảm từ 10.000 đến 12.000 vị trí cảnh sát trong nhiệm kỳ của mình. Còn Hollande thì làm điều quá đà khi trong nhiệm kỳ 5 năm, ông đã chia sẻ với các nhà báo trong 20 bữa ăn và 70 cuộc họp. Tôi không biết Dupont Aignan có thể làm gì cho đất nước này, nhưng ông đúng khi nói: "Các anh sẽ tái bầu những người đã khiến anh em rơi vào cảnh bế tắc".

Khuyến khích hành vi phạm pháp

Tôi đã xem video trong đó Morano cố gắng cản đường Rachid Nekkaz, người đến đây, trả tiền phạt cho những phụ nữ mặc burqa (đồng thời nhấn mạnh rằng ông cá nhân phản đối cách người phụ nữ ăn mặc như vậy), để "dạy một bài học dân chủ" cho người Pháp, dùng cờ Algeria như một chiếc khăn quàng. Ta không hiểu tại sao công lý Pháp không thể truy tố ông vì:

  • Khuyến khích hành vi phạm pháp và hỗn loạn xã hội bằng cách gây ra sự bất tuân hệ thống đối với các luật và nghị định được thông qua một cách dân chủ.

Sự tự tin của nhân vật này cho thấy ông dễ dàng lợi dụng những điểm yếu của một nhà nước pháp quyền. Điều gây ấn tượng là sự giả dối hoàn toàn trong hành động. Nekkaz không cố gắng thúc đẩy Pháp tuân thủ luật pháp. Hãy đọc Kinh Koran. Hồi giáo là một tôn giáo xâm lược, sự hòa nhập với nó là điều hoàn toàn bất khả thi. Các nguyên tắc của nó mâu thuẫn hoàn toàn với chúng ta. Chúng ta đang trượt dần vào một tình thế mà việc đề cập đến một số chủ đề sẽ bị cấm, mà không cần phải đánh đổi tính mạng. Nekkaz viện dẫn Voltaire. Nhưng có ai nhớ rằng Voltaire sống vào thời kỳ mà knight de La Barre bị kết án và xử tử năm 1766 vì xúc phạm, thiếu tôn trọng tôn giáo Kitô giáo? Chính là một tình thế như vậy mà chúng ta đang trượt dần. Người Pháp không nhận ra điều gì đã xảy ra vào ngày hai kẻ cực đoan xông vào tòa soạn báo Charlie Hebdo và giết chết lạnh lùng tất cả những ai "thiếu tôn trọng tiên tri của họ". Ngày đó đã tạo ra một thực tế, một mối đe dọa được tuyên bố: "Hãy biết rằng nếu hôm nay các anh nghi ngờ niềm tin của chúng tôi, các anh sẽ phải trả bằng mạng sống". Và điều đó xảy ra trên lãnh thổ của chúng ta.

Ở đất nước của ánh sáng, việc quay ngược lại hàng thế kỷ, với việc kết án quyền nghi ngờ – thứ quyền được giành bằng máu – là điều không thể tưởng tượng nổi. Không lâu nữa, bất kỳ trí thức nào dám công bố một nghiên cứu về Kinh Koran, dám nghi ngờ "những lời chính xác của một vị thần", sẽ phải đối mặt với nguy hiểm tính mạng. Hồi giáo là một tôn giáo không thể tự cải cách, vì đối với một người Hồi giáo, việc thay đổi bất kỳ câu Kinh nào là điều không thể tưởng tượng nổi, và đối với nhiều người, cả những câu trong Hadith.

Thành công của Hồi giáo

Tại sao, về mặt lịch sử, Hồi giáo lại thành công đến vậy?

Ta có thể tự hỏi song song tại sao Kitô giáo lại thành công đến vậy, dù bị đế chế La Mã đàn áp đến mức hoàng đế Constantin cuối cùng cũng phải chuyển đổi tôn giáo vào cuối đời mình.

Có nhiều lý do. Lý do đầu tiên là tính phổ quát của giải pháp đưa ra cho vấn đề về đời sống sau khi chết. Tin nhắn của tôn giáo do La Mã đề xướng là gì? Chỉ công dân mới được coi là có linh hồn. Nô lệ, dù đông đảo, thì không có linh hồn, bị coi là vật nuôi. Trong mọi chế độ nô lệ, người ta không nói đến "nam và nữ", mà chỉ nói đến "đực và cái". Trong truyện tranh tuyệt vời của Bourgeon, bộ truyện "Những hành khách của gió", tập thứ tư: "Giờ của Rắn", trang 45, thuyền trưởng Boitboeuf nói một câu sau khi chứng kiến cái chết của một nô lệ đang cố rời khỏi con tàu buôn người:

![](/legacy/Geopolitique/passagers vent 4-45.jpg)

  • Ngày 16 tháng 8, 12 giờ 30 phút. Mất một con cái ở cảng Juda.

Đúng vậy, thời La Mã, nô lệ được hứa gì về đời sống sau khi chết? Không có gì. Bỗng nhiên, một tôn giáo khác xuất hiện, không chỉ hứa cho những người bị xã hội ruồng bỏ cuộc sống vĩnh hằng, mà còn đảm bảo cho họ một vị trí cao hơn hẳn những người đã áp bức họ. Một sự trả thù sau khi chết! Vì vậy, những người theo Kitô giáo có thể nói với những kẻ hành hạ họ:

  • "Các anh có thể hành hạ thân xác chúng tôi, nhưng linh hồn chúng tôi thì nằm ngoài tầm với của các anh, nó thuộc về chúng tôi!"

Bên cạnh đó, tôn giáo La Mã đã cung cấp giải pháp thay thế nào cho công dân của mình? Những "Đồng bằng Elysée" mơ hồ, một hình ảnh khá mờ nhạt, nơi các thứ bậc trần gian dường như được duy trì, ít nhất là đối với hoàng đế, người mà tôn giáo này đã thần thánh hóa. Vào cuối đời, hoàng đế Constantin, biết mình bị bệnh, đã tự chọn con đường Kitô giáo, vì ông thấy nó tin cậy hơn việc thần thánh hóa theo kiểu La Mã.

Sức mạnh lớn nhất của Kitô giáo là việc sáng tạo ra "thiên đường" (tức là vương quốc của Thiên Chúa), dành cho tất cả, bắt đầu từ những người nghèo khổ nhất. Hãy nhớ lời Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi:

Phúc thay những người nghèo về tinh thần, vì nước trời là của họ!
Phúc thay những người khóc lóc, vì họ sẽ được an ủi!
Phúc thay những người hiền lành, vì họ sẽ được hưởng đất!
Phúc thay những người khát khao công lý, vì họ sẽ được no đủ!
Phúc thay những người nhân hậu, vì họ sẽ được thương xót!
Phúc thay những người trong sạch về tâm hồn, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa!
Phúc thay những người làm hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa!
Phúc thay những người bị bắt bớ vì công lý, vì nước trời là của họ!
Phúc thay các anh, khi người ta sỉ nhục, bắt bớ và nói xấu các anh mọi điều xấu xa vì tôi.

Điểm thứ hai giúp "giải pháp Kitô giáo" lan rộng nhanh chóng là những điều chỉnh do Phaolô đưa ra trong các sách Công vụ và Thư Tín hữu. Một nhà thao túng lớn, người thừa nhận rằng ông chưa từng gặp Chúa Giêsu, đã điều chỉnh tôn giáo Kitô giáo để phù hợp với "hệ thống": các vua, được xức dầu (truyền thống vốn dành cho các tiên tri), "trở thành các vị vua có quyền lực thần thánh".

Như Thánh Phêrô, người từng là môn đệ của Chúa Giêsu (1 Phêrô 4:12-13), ông nói:

  • *Hãy vâng phục mọi thể chế nhân loại vì Chúa (?...): hoặc là vua, với tư cách là người cai trị, hoặc là các quan chức được ông bổ nhiệm để trừng phạt kẻ ác và khen thưởng người tốt. Hãy kính sợ